Thiết kế Ánh sáng Sân khấu Phần 3 (01) Print
Written by tuyenphuc   
Thursday, 26 January 2012 10:58

PHẦN 3/7 - Ứng dụng các phương pháp thiết kế

3.01 Sân khấu

3.02 Nhà hát

3.03 Múa

3.04 Opera

3.05 Âm nhạc

3.06 Hòa nhạc

3.07 Arena

3.08 Ngoài trời

3.09 Trưng bày

3.10 Truyền hình & Video

3.11 Ảnh & Nhiếp Ảnh

3.12 Film & Picture Motion

3.13 Bảo tàng / Thư viện ảnh

3.14 Kiến ​​trúc

3.15 Cảnh quan

 

3.01 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG SÂN KHẤU

 

1.) GIỚI THIỆU

P 3- 01 copy

Theo truyền thống, khi chúng ta nói về ánh sáng sân khấu, chúng ta thường nghĩ đó là ánh sáng áp dụng cho chương trình của sân khấu “chính thống” diễn ra trong một nhà hát thực tế. Khi biểu diễn nghệ thuật và giải trí phát triển trong suốt những năm 1900, ánh sáng sân khấu đã làm được nhiều hơn so với “chỉ chơi ánh sáng”. Ánh sáng mới đặc thù được sinh ra và các tiêu chuẩn ánh sáng mới đã được thiết lập, opera, ballet, múa hiện đại, hòa nhạc trực tiếp, trượt băng, chương trình công nghiệp, truyền hình và những trình diễn “sống-live” khác. ÁNH SÁNG SÂN KHẤU với sự điều khiển và các ứng dụng ánh sáng đã làm cho khán giả có cảm xúc và quan tâm nhiều hơn mà chỉ cần chiếu sáng sân khấu cho đạt được tầm nhìn.

Hiện nay sự biểu diễn hiện đại có những phương tiện phong cách biểu diễn đa dạng hoạt động bên trong chúng. Tiện nghi bao gồm nhiều loại nhà hát, khán phòng, phòng hòa nhạc, quảng trường (arena) lớn, sân vận động, trung tâm mua sắm và những địa điểm thông thường và không thông thường khác.

Hầu hết các sự kiện thương mại (sân khấu, múa, nhạc kịch) thường diễn ra trong một nhà hát thực tế. Đây là một điều rất tốt, một nhà hát chỉ kiểm soát môi trường có thể chịu được các yêu cầu đòi hỏi về dàn dựng, khán giả thoải mái, âm thanh và ánh sáng hy vọng sẽ thích hợp.

Ngày nay ngày càng có nhiều show rời khỏi nhà hát và vào quảng trường. Khán giả ở quảng trường lớn  có thể tạo ra doanh thu nhiều hơn mà chỉ cần một show duy nhất, tuy nhiên điều kiện trong hầu hết các quảng trường thường ít lý tưởng hơn nhiều. Để cung cấp cho khán giả ánh sáng (và âm thanh) tốt nhất có thể trong  không gian này có nhiều vấn đề, thường có nhu cầu một lượng lớn thiết bị. Một chương trình đơn giản trong một nhà hát có thể yêu cầu 24-100 đèn. Các chương trình tương tự trong một quảng trường có thể yêu cầu 300-500 thiết bị ánh sáng. Show cho quảng trường (arena) đã trở nên có công nghệ rất cao, đầy nhiệt huyết và rất sáng tạo trong những năm gần đây. Các công cụ mới bao gồm các thiết bị ánh sáng tự động và thay đổi màu sắc đã mang lại một chiều hướng mới cho thiết kế ánh sáng sân khấu, không bao giờ nhìn thấy trước đây.

Ngày nay, người thiết kế ánh sáng sân khấu đã phát triển thành NGƯỜI THIẾT KẾ ÁNH SÁNG GIẢI TRÍ. Thế hệ mới của người thiết kế thường sẽ làm việc trong nhiều địa điểm, thực hiện các phép lạ liên tục cho một số lượng vô tận các sự kiện khác nhau. Sau đây là tổng quan chung của các phương pháp ánh sáng cơ bản đối với một số điểm về hiệu suất và không hiệu suất của các ngành công nghiệp liên quan. Về thông tin, chúng nó cũng bao gồm: ánh sáng trưng bày, ánh sáng kiến ​​trúc, ánh sáng cảnh quan, ánh sáng chụp ảnh và ánh sáng cho bảo tàng và phòng trưng bày.

 

3.02 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG NHÀ HÁT

 

1.) Ánh Sáng Sân Khấu

P 3- 02 copy

Ánh sáng cho nhà hát thường có nghĩa là thiết kế trên một phạm vi rộng các loại hình khác nhau của chương trình, trình diễn trong các nhà hát hay không gian được thiết kế để có chức năng như một nhà hát. Chương trình có thể bao gồm nhiều loại kịch, hài kịch, bi kịch, nhạc kịch, hòa nhạc và kịck ngắn. Nhà hát “điển hình'” có thể từ một loại ngoài phông màn truyền thống của nhà hát, từ một "sự đột phá", một sân khấu 3 mặt, sân khấu 4 mặt hay sân khấu không có mặt nào cả. Chỗ ngồi có thể dao động từ 200 chỗ ngồi trong một nhà hát nhỏ đến hơn 2.500 chỗ ngồi trong một khán phòng lớn cấp thành phố.

Chương trình nhỏ trong hội trường công cộng có thể xử dụng 12 - 20 đèn. Một chương trình chuyên nghiệp điển hình có thể xử dụng 48 - 200 thiết bị. Hiện nay không phải là hiếm khi một “mega-musical” lớn  xử dụng 500 thiết bị hay nhiều hơn. Show Broadway của “Lion King” hình như xử dụng 700 thiết bị.

2.) VỊ TRÍ TREO ĐÈN Ở NHÀ HÁT

Ánh sáng sân khấu có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào các vị trí lắp đặt thiết bị có sẵn trong không gian. Hầu hết các nhà hát thường có vị trí lắp đặt ánh sáng cố định (hay ống tube). Một số thường được cài đặt ở vị trí chiếu sáng bên trên chỗ ngồi khán giả phía trước sân khấu (đôi khi được gọi là "Ceiling Coves”). Các vị trí ánh sáng trong khán phòng thường bao gồm “Box boom” (ống thẳng đứng liền kề với các phía ngoài màn) và một “Balcony Rail”). Tất cả ánh sáng nằm trong khán phòng được gọi là ánh sáng “FOH” (Front of House).

Các vị trí khác được cài đặt ở trên sân khấu và thường bao gồm một mạng lưới đường ống tube cố định hay một hệ thống ống tube cơ giới hóa (hay đối trọng - counterweight). Khoảng cách chiếu sáng (sân khấu) thường  nằm trong khoảng 30-80 feet cho các thiết bị gắn trên đầu khán giả, và  20-40 feet cho các thiết bị gắn trên sân khấu. Thiết bị ánh sáng bổ sung thường được đặt trên sàn sân khấu để “chiếu ngược-uplight” lên  phông nền, hay footlight (ít dùng hơn trong những năm gần đây). Việc xử dụng “Box boom”, “Sào cánh gà-tormentor boom” và ”sào sân khấu-stage boom” di động như một phương pháp gắn cố định, cũng khá phổ biến.

3) ÁNH SÁNG NHÀ HÁT - KỸ THUẬT

Hầu hết các phương pháp ánh sáng sân khấu đều “lỏng lẻo-loosely” dựa vào phương pháp McCandless, trước tiên chiếu sáng diễn viên cho tầm nhìn, sau đó chiếu sáng phong cảnh, và bối cảnh cho bầu không khí và sự quan tâm. McCandless cũng đưa ra một phương pháp đơn giản của ánh sáng KHU VỰC cho sân khấu phía ngoài man. Phương pháp này phân chia các sân khấu ra một số khu vực nhỏ hơn và sau đó cung cấp cho mỗi khu vực 2 frontlight được gắn một số thiết bị khoảng cách cách nhau. Thiết bị phải được đặt chính xác để cung cấp các góc độ ánh sáng thích hợp và hướng ánh sáng vào diễn viên. Khu vực cũng phải được kiểm soát về kích thước, để tránh  ánh sáng không cần thiết “tràn-spill” trên các khu vực hay phông cảnh liền kề. Một loại ánh sáng phía trước góc 70 độ (ngang) đến một diễn viên có thể khá phù hợp với chương trình, trong khi một góc dưới 50 độ có thể phù hợp hơn cho một vở kịch hài. Nếu tất cả các diễn viên đều đội nón, thì có thể cần đặt ánh sáng phía trước không quá 45 độ, để cung cấp thêm ánh sáng cho khuôn mặt của họ.

4.) LOẠI THIẾT BỊ CHO NHÀ HÁT

Các người thiết kế phải cẩn thận lựa chọn thiết bị làm việc có hiệu quả từ một vị trí chiếu sáng cụ thể (khoảng cách). Đối với hầu hết các ứng dụng ánh sáng sân khấu tổng quát, người thiết kế sẽ làm việc với chỉ  năm (5) loại thiết bị cơ bản. Tuy nhiên, mỗi loại có sẵn một vài loại công suất, đường kính thấu kính và luồng sáng tỏa khác nhau. Các loại thiết bị cơ bản được xử dụng cho ánh sáng trong nhà hát là: FRESNEL, SPOTLIGHT ELLIOSOIDAL PAR, BOX FOODLIGHT và STRIPLIGHT. Công suất điển hình là 500-2000 watt. FOLLOWSPOT cũng đôi khi được xử dụng cho các vở kịch cách điệu, hài kịch.

 

3.03 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG CHO MÚA (DANCE)

 

1.) ÁNH SÁNG CHO MÚA

P 3- 03 copy

Ánh sáng cho múa có nghĩa là cho tất cả các dạng thức trình diễn múa, bao gồm: Ballet, Hiện đại và Đương đại. Các dạng thức truyền thống hơn của múa thường được trình bày theo các điều kiện kiểm soát của một nhà hát thích hợp, với cơ sở vật chất kỹ thuật và ánh sáng hoàn chỉnh. Các hình thức khác của múa (Hiện đại và Đương đại) có thể được thoải mái trong không gian "tìm thấy-found" hay không quy ước (nonconventional). Trong khía cạnh này các địa điểm cho bộ môn múa có phạm vi từ phía ngoài màn nhà hát thanh lịch, đến tầng hầm nhà thờ và đến cả các trung tâm mua sắm.

2) DANCE LIGHTING - KỸ THUẬT

Ánh sáng thông thường thì chú tâm đến chiếu sáng mặt của diễn viên cho tầm nhìn. Ánh sáng múa trước hết quan tâm đến chiếu  sáng dạng thức con người, nhấn mạnh đến tính tạo hình, sự thích thú và tác động cảm xúc và thứ hai mới đến khả năng hiển thị khuôn mặt. Trong nhà hát, ánh sáng mặt tiền thường cung cấp ánh sáng chính cho các khu vực diễn xuất. Ở Múa, ánh sáng hai bên lại là một nguồn chiếu sáng chính. Ánh sáng mặt tiền (frontlight), nếu được dùng, tất cả thường được dành cho việc cung cấp wash màu hay kỹ xảo.

Ánh sáng hai bên cạnh cho múa đã được giới thiệu bởi Jean Rosenthal, một người thiết kế ánh sáng nổi tiếng của Mỹ vào đầu những năm 1940. "Hệ thống của tôi yêu cầu sào ánh sáng cố định dọc theo cạnh bên ở mọi lối vào, là một cơ sở cho sự linh hoạt và chiếu sáng toàn bộ sân khấu. Điều đó làm những điệu múa ballet nhìn khác nhau, đã khích động biên đạo múa và người thiết kế châu Âu cho “Ballet International vào năm 1944". (Rosenthal, The Magic of Light). Bà Rosenthal cũng đã làm việc với biên đạo múa người Mỹ nổi tiếng, Martha Graham, trong nhiều năm.

Ngoài việc xử dụng rộng rãi ánh sáng bên, ánh sáng múa thường xử dụng “downlight” (tạo vũng sáng), và "backlight" (tạo bóng vũ công). Ánh sáng mặt tiền hiếm khi được xử dụng do đặc điểm “phẳng-flat” của nó, và vị trí này thường được dành riêng cho loại ánh sáng “colors wash”. Followspot cũng thường được xử dụng trong Ballet để làm nổi bật các vũ công chính.

Kỹ thuật ánh sáng hai cạnh bên, thường đòi hỏi bố trí các sào ánh sáng theo chiều dọc trong mỗi “chân cánh gà” hay lối vào. Thông thường có thể yêu cầu 4-6 sào (mỗi bên). Mỗi sào có thể có một (1) thiết bị ánh sáng hay hơn (thường là 3-5). Các thiết bị (thường là ellipsoidals) có tiêu điểm thẳng qua sân khấu, và thường dùng  “màn trập-shutter” off, ở phía đối diện, nơi bị sân khấu che đi.

Một bộ gồm ba (3) sào thiết bị điển hình, có thể gắn thiết bị ở độ cao 10', 8’ và 1 ft, so với sàn sân khấu. Các thiết bị thường ở vị trí TOP, MID hay SHIN (ống quyển). Các thiết bị TOP và MID thường được xử dụng cho ánh sáng cạnh bên. Thông thường TOP và MID sẽ có bộ lọc màu khác nhau. Đèn bên dưới (ống quyển hay giữa ống quyển) được xử dụng truyền thống cho ánh sáng chân của các vũ công ballet, và để cho ra ánh sáng, dưới váy xòe (tutu). Người thiết kế vũ đạo hiện đại có thể xử dụng “ống quyển-shin”  như là nguồn chủ yếu cho một góc độ ánh sáng không tự nhiên, thường có (nhiều) màu sắc mạnh. Nếu dùng shutter off đúng cách với sàn sân khấu, hiệu ứng này có thể làm cho các vũ công hiện ra sẽ “nổi-float” trên sàn sân khấu. Hiệu quả rất ấn tượng, đặc biệt là với màu sắc đối lập từ phía đối diện.

 

3.04 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG CHO OPERA

 

1.) ÁNH SÁNG OPERA

P 3- 04 copy

Ánh sáng cho opera được xử dụng để ám chỉ  “opera lớn-grand'' truyền thống, tuy nhiên, ngày nay nó cũng có thể ám chỉ opera đương đại. Như vậy, opera có thể trình diễn trong phòng hòa nhạc vĩ đại nhất, hay chỉ trong một phần ngắn của sân  khúc côn cầu (hockey). Opera là về âm nhạc, sân khấu, ca hát, diễn xuất và nhảy múa, và thiết kế ánh sáng cho opera thường là một sự kết hợp của kỹ thuật ánh sáng sân khấu múa và sân khấu âm nhạc. May mắn thay cho các người thiết kế ánh sáng, vì do sự cần thiết âm thanh tốt, hầu hết thiết kế opera chuyên nghiệp được thực hiện trong nhà hát hay khán phòng hòa nhạc.

2) ÁNH SÁNG OPERA - KỸ THUẬT

Ánh sáng opera phải chiếu sáng ca sĩ cho rõ ràng, chú trọng tới các vũ công và dàn hợp xướng và cảnh quan cho có “không khí”. Opera có thể chỉ là chiếu đơn giản và thẳng về phía trước, hay rất phức tạp và cách điệu. Không phải là bất thường khi “tầm nhìn” xuất hiện từ trong “hư không-nowhere". Cũng không phải bất thường để có “ma quỷ-devil” thường xuyên xuất hiện hay biến mất trong suốt chương trình. Người thiết kế ánh sáng opera phải sẵn sàng cho việc này và còn nhiều hơn nữa.

“Quy mô” của ánh sáng opera thường có thể vượt quá tầm của ánh sáng nhà hát, múa, sân khấu âm nhạc. Thông thường, opera sẽ xử dụng một không gian biểu diễn lớn. Sân khấu này thường lớn, bố trí ánh sáng thường là một “high trim” ở 28'-35' và thường phải chiếu sáng một số lượng lớn phong cảnh.

Tiếp tục vấn đề phức tạp, thiết kế cho opera phải làm việc một cách nhanh chóng. Nói chung có ít thời gian để “chiếu sáng-light” một opera hơn là cho một sân khấu âm nhạc, nhà hát hay chương trình múa. Tập hợp diễn viên chuyên nghiệp và đội ngũ diễn viên phụ lại rất tốn kém (và quá nhiều người) và người thiết kế ánh sáng opera thường chỉ có một hay hai buổi diễn tập ánh sáng, trước khi mở chương trình.

Hầu hết các ca sĩ opera giống như con bướm đêm và họ có khuynh hướng hút hướng chiếu tới của ánh sáng. Họ hiếm khi bỏ lỡ sự đặc biệt của họ và nếu họ làm, họ "tìm ánh sáng của họ” rất tốt và nhanh. Người thiết kế đã học được rằng không có vấn đề các đạo diễn có thể ngăn chặn (block) một vở opera như thế nào, hầu hết các ngôi sao opera sẽ ở vị trí dưới sân khấu (downstage) - ở phía trước nhạc trưởng, trong hầu hết thời gian.

Bên cạnh đạo diễn opera, là Maestro (nhạc trưởng) chạy chương trình. Nhạc trưởng là một thành viên rất quan trọng của đội ngũ nghệ thuật và có liên quan với sự việc các ca sĩ và nhạc sĩ kết hợp âm thanh lại với nhau bằng cách nào. Trong khi biểu diễn, phải chú ý đến Maestro khi ông ta vào hố dàn nhạc. Hơn nữa bắt buộc các ca sĩ và nhạc sĩ, tất cả đều có thể thấy rõ ràng bàn tay của Maestros tại tất cả các thời điểm. Trong khía cạnh này, Downlight thường được dùng từ trên cao, chiếu sáng toàn người của nhạc trưởng, cánh tay và bàn tay của nhạc trưởng.

Thường giả định rằng, người thiết kế ánh sáng opera phải nghe quen âm nhạc và thuộc vở opera mà họ đang làm ánh sáng, dĩ nhiên trừ khi chỉ mới bắt đầu làm ánh sáng cho một vở opera. Bắt buộc phải có kiến thức về opera là và thường phải giả định khi người thiết kế là người làm thuê. Nếu người thiết kế không biết về opera, họ có một cơ hội lớn để có bản tổng phổ và bản ghi âm (CD, Video, v.v) và dần quen thuộc với nó ngay cả trước khi họ tham dự buổi diễn tập đầu tiên của mình. Bảng tổng phổ (score) và ghi âm (recording) sẽ cung cấp sự hỗ trợ có giá trị: phân tích cảnh (scene breakdown), tâm trạng & không khí, ngăn chặn (blocking) và “cái nhìn ánh sáng-lighting looks" tổng quát.

 

3.05 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG NHẠC KỊCH

 

1.) ÁNH SÁNG NHẠC KỊCH

P 3- 05 copy

Ánh sáng cho "âm nhạc", thường đề cập đến ánh sáng sân khấu cho chương trình nhạc kịch quy mô lớn (tại  Broadway hay West End). Chương trình cổ điển bao gồm: "Dolly", "My Fair Lady", "The King & I”, ”Oklahoma “, “Showboat”, “Guys & Doll”, “Sound of Music", “Annie” v.v. Những vở nhạc kịch khác đương đại bao gồm: “Lion King","Phantom of the Opera", "Cats ", và còn nhiều nữa.

Nhạc kịch điển hình chứa các yếu tố của kịch, múa, ca hát và âm nhạc. Một nhạc kịch nhỏ có thể có một dàn diễn viên chỉ 4 người biểu diễn và 2 nhạc sĩ. Một nhạc kịch lớn có thể có một dàn diễn viên 5-10, diễn viên và vũ công và 50 nhạc sĩ. Vở nhạc kịch “di chuyển-move” nhanh chóng và thường có nhiều cảnh và địa điểm khác nhau.

Chương trình nhạc kịch thông thường diễn ra phía ngoài màn của nhà hát, với dàn nhạc nằm trong hố  nhạc. Thông thường, nhà hát không bao giờ lớn, chỉ đủ để đáp ứng số lượng đầy đủ  cảnh quan, ánh  sáng, diễn viên, nhạc sĩ, và những gi cần thiết.

Nhạc kịch thường có cấu trúc với nhiều scene thay thế, biểu diễn ở downstage với một phông nền khác. Điều này cho phép một scene đầy đủ đã được "cài sẵn-preset" upstage. Khi thả xuống, chúng ta chuyển thần kỳ sang một thiết lập một sân khấu mới.

2) ÁNH SÁNG NHẠC KỊCH - KỸ THUẬT

Hầu hết các vở nhạc kịch “cổ điển'” cố gắng cho tính hiện thực. Đó là, nhiều scene được thiết kế quá hoang phí, rất giống thực tế và nội tâm hay biểu lộ khá xác thực. Về mặt này, ánh sáng được dự kiến ​​sẽ tạo ra một tâm trạng, không khí và biểu thị cụ thể của thời điểm trong ngày. Thường thì thông tin này cũng được cung cấp bởi lời bài hát và kịch bản.

Ngoài ra, các yếu tố của chủ nghĩa hiện thực được mong đợi bởi khán giả, nhạc kịch cũng có các yếu tố tưởng tượng và bất ngờ. Không phải là hiếm nếu suốt một bài hát, người biểu diễn bị hoàn toàn cô lập với đèn follow-spot, và sau đó đột nhiên "trở lại thực tế” ở cuối bài hát. Yếu tố khác có thể là để lấp đầy  chương trình, với giàn đồng ca và các vũ công có yêu cầu thay đổi ánh sáng nhanh đầy màu sắc xuyên suốt vở kịch.

Thông thường, nhạc kịch xử dụng followspots rất nhiều. Điều này cần thiết nếu diễn viên muốn được cô  lập trong nhóm âm nhạc, và đặc trưng trong cảnh "ưa thích-book". Thường xử dụng hai (2) đến năm (5) followspots, từ trên trần của khán phòng. Followspots cũng đôi khi được dùng từ phía sau vòm bên ngoài màn (bridge spot) để cung cấp một góc chiếu sáng dốc hơn cô lập nhiều hơn cho sân khấu.

Kỹ thuật ánh sáng cho âm nhạc đa dạng. Khả năng hiển thị thường được cung cấp bởi followspots. “Khu vực ánh sáng” thường cung cấp cho "cảnh ưa thích -book scenes", màu sắc; wash, sidelight và backlight thường được cung cấp cho chương trình và nhóm múa. Phông nền và màn vây được chiếu sáng để có sự quan tâm và tâm trạng. Nhạc kịch thường có ánh sáng  “quyến rũ” (hay có hiệu ứng) mức độ cao. Strobes, neon, đèn hiệu (beacon), tracking bulb, trái châu, v.v, tất cả đều bình thường.

 

3.06 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG HÒA NHẠC (CONCERT LIGHTING)

 

1.) ÁNH SÁNG HÒA NHẠC (CONCERT)

P 3- 06 copy

Năm 1960 là lĩnh vực tương đối mới của thiết kế ánh sáng hòa nhạc (hay giải trí) đã được sinh ra. Ở New York tại Filmore East và ở California tại Filmore West, âm nhạc phổ biến tổ chức thường xuyên hơn và với điều đó, một phong cách trình diễn mới đã được sinh ra bởi nhà thiết kế ánh sáng hòa nhạc nổi tiếng nhất người Mỹ trước nay là Monk Chip. Tại Filmore, ánh sáng hoạt động theo đúng nghĩa đen bao gồm các người vận hành thực sự "nhảy múa” trên một bức tường của autotransformer dimmers đồng thời với âm nhạc.

Nhiều buổi biểu diễn trước đây tại Filmore, Electric Circus và các nơi khác khắp nước Mỹ, được hỗ trợ bởi một “light show”. Một số hiệu ứng chiếu hình bắn phá một màn hình lớn phía sau những người biểu diễn, tạo ra các mô hình ánh sáng năng động và liên tục thay đổi. Việc chiếu hình thường tạo ra những quan điểm xung đột, hết sức dơ bẩn hay hoàn toàn tạo ảo giác và đặc sắc.

Thiết kế ánh sáng hòa nhạc đã trở thành một đặc trưng được công nhận và nhiều người thiết kế chỉ làm việc trong lĩnh vực này mà thôi. vẫn áp dụng các nguyên tắc cơ bản để thiết kế, chỉ khác là các đồ chơi lớn hơn, và đắt tiền hơn.

2) ÁNH SÁNG HÒA NHẠC - KỸ THUẬT

Ánh sáng giải trí ngày nay đã trở nên rất thú vị. Ngành công nghiệp này bây giờ gần như độc quyền xử dụng thiết bị ánh sáng “tự động-automated”. vẫn xử dụng thiết bị thông thường, tuy nhiên ít và ít thường xuyên hơn. thiết bị PAR 64 vẫn còn rất phổ biến cho ánh sáng hòa nhạc, thiết bị này khá hiệu quả và tương đối rẻ tiền. Nó không phải là không phổ biến nếu kết hợp với color change, hiệu ứng chuyển động, hình ảnh và chiếu nền, panel mành hình, strobes, Blacklight, fog, pyro, ánh sáng đuổi và các hiệu ứng hình ảnh khác. Giới hạn của bầu trời... uh ... giới hạn của ngân sách.

Thông thường tất cả các thiết bị được điều khiển bằng tín hiệu DMX từ một vị trí trung tâm. Ánh sáng hòa nhạc xử dụng các thiết bị tự động phụ thuộc rất nhiều vào hai người quan trọng – Người thiết kế ánh sáng và người lập trình . Vị trí của “người lập trình-programmer” được sinh ra trong năm 1980 vì thiết bị tự động bắt đầu có  nhiều hơn và có công năng (và phức tạp) nhiều hơn nữa. Một người lập trình tốt sẽ hiểu rõ thiết bị của mình và có thể nhanh chóng xây dựng để có nhiếu “cái nhìn-looks” khác nhau, dựa trên các tiêu chí cơ bản của người thiết kế. Một lập trình viên dở mang đến rất ít và có thể làm cho một triệu đô la của thiết bị xem như mười xu! Cách khác, người một lập trình tốt có thể tạo ra kết quả tuyệt vời với rất ít thời gian và thiết bị.

Hầu hết các người biểu diễn  hòa nhạc cũng còn lưu diễn nữa, vì vậy ánh sáng hòa nhạc phải cực kỳ bền, đóng gói bao bì tốt, và phù hợp cho thiết lập (set-up) và tháo gỡ (take-down) nhanh chóng. Giàn sào (truss) ánh sáng “bay-flown” được phát triển cho ngành công nghiệp này và thường dùng để treo tất cả các thiết bị ánh sáng trên sân khấu.

 

3.07 - THIẾT KẾ ÁNH SÁNG QUẢNG TRƯỜNG (SÂN VẬN ĐỘNG) (ARENA)

 

1.) ÁNH SÁNG SÂN VẬN ĐỘNG

P 3- 07 copy

Chiếu sáng cho "Arena" thường đề cập đến ánh sáng của các sự kiện quy mô lớn, bao gồm cả Rock show, hoạt cảnh, show trượt băng, xiếc và các chương trình giải trí khác khá lớn. Chỗ ngồi cho những sự kiện này có thể dao động từ 5.000 đến 25.000 khán giả, hay nhiều hơn. Thông thường có thể là một “sân khấu chính” ở một đầu của sân vận động, hay luân phiên, một số khu vực hiệu suất khác nhau, trên khắp toàn bộ sân vận động.

Người biểu diễn thường bao gồm các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc sĩ, người trượt ván (skater), biểu diễn trên không (aerial) và những người biểu diễn khác. Sự kiện thường ngoạn mục và có thể xử dụng khói, sương mù, laser, pyro (pháo hoa), slide, chiếu phim hay video. Hơn nữa, thiết bị chiếu sáng luôn luôn bao gồm nhiều thiết bị tự động nếu ngân sách cho phép.

Hai yếu tố rất quan trọng lĩnh vực ánh sáng arena là từ các dạng thức khác của ánh sáng sân khấu truyền thống. Đầu tiên, “quy mô-scale” lớn hơn nhiều so với quy mô nhà hát bình thường. Điều này đề cập đến quy mô của tất cả mọi thứ, bao gồm cả các khu vực biểu diễn và khán giả, cảnh quan, khoảng cách chiếu sáng và các loại thiết bị ánh sáng. Thứ hai, tất cả mọi thứ chỉ là gắn tạm thời. Thông thường, tất cả các thiết bị ánh sáng đặc biệt phải được đưa vào sân vận động, treo, cột và điều chỉnh, sau đó tháo bỏ (hạ xuống) sau sự kiện này. Ánh sáng nên được thiết kế để  có sự “nhanh chóng“ và “hiệu quả" (không nhất thiết phải “nhanh chóng và bẩn”).

2) ÁNH SÁNG ARENA - KỸ THUẬT

Khoảng cách chiếu sáng trên không trong nhà hát thông thường thường dao động từ 20-50 feet. Trong sân vận động, khoảng cách chiếu sáng có thể dao động từ 40-100 feet, hay nhiều hơn. Khoảng cách lớn hơn, đòi hỏi phải xử dụng đèn góc hẹp hơn và mạnh hơn so với dùng cho chiếu sáng sân khấu truyền thống.

Thông thường, tất cả các thiết bị ánh sáng được treo (thường là treo & di dây điện sẵn) trên một số giàn sào ánh sáng (dài 20-60 feet). Lắp ráp giàn sào, bố trí trên nền sân, và sau đó kéo lên treo đúng vị trí bằng động cơ xích, gắn liền với các kết cấu mái nhà thép bên trên trên. Đội kỹ thuật ánh sáng được đào tạo tốt sẽ cố định nó  từ mái nhà hay leo lên bằng dây thừng hay thang từ sàn sân khấu để tiếp cận từng giàn. Kế đó, họ đi bộ cẩn thận dọc theo các giàn và tập trung vào mỗi thiết bị từng cái một. Tác giả đã có một đội kỹ thuật có tay nghề cao với bốn (4) thợ điện canh chỉnh trên 300 thiết bị, cao 50 feet cách sàn sân khấu, chưa tới bốn (4) giờ.

Thiết bị ánh sáng phù hợp cho các ứng dụng sân vận động bao gồm các ellipsoidals góc hẹp (5-20 độ) 1KW, 1KW. Par64-NSP, và 2KW. ellipsoidals, fresnels, và máy chiếu luồng sáng. đôi khi cũng xử dụng thiết bị HID với dimmers cơ khí. Thiết bị kỹ xảo thường bao gồm các thiết bị color scrollers và tự động (di chuyển). Followspot thường dùng số lượng lớn cho sự kiện sân vận động (arena). Thông thường, các followspots được bố trí ở trên cao trên trần nhà chung quanh chu vi các bức tường. Mỗi loại thiết bị ánh sáng hấu hết có từ bốn 4 - 8 thiết bị trở lên. Một số chương trình  lưu diễn yêu cầu cung cấp nhất quán từ địa điểm này đến địa điểm khác, dùng followspots riêng của họ, gắn trong các khung sào chiếu sáng tạm thời.

(còn tiếp)...