HOME SOUND

Miscellaneous items

Login Form



Who's Online

We have 26 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday250
mod_vvisit_counterYesterday1643
mod_vvisit_counterTotal2207447

IP: 50.16.120.143
Thiết kế Ánh sáng Sân khấu Phần 1 (02)
Written by tuyenphuc   
Sunday, 25 December 2011 18:47

1.06 – CƯỜNG ĐỘ và ĐỘ SÁNG

 

1) CƯỜNG ĐỘ và ĐỘ SÁNG (INSTENSITY and BRIGHTNESS)

P 1- 06 copy

CƯỜNG ĐỘ điển hình đề cập đến "sức mạnh" của một nguồn ánh sáng. Cường độ của một nguồn tồn tại độc lập với khoảng cách của nó. Cường độ được đo bằng candela (thuật ngữ cũ là candlepower).

RỌI SÁNG (ILLUMINATION) đề cập đến lượng ánh sáng chiếu trên một bề mặt. Thụât ngữ cũ của từ  illuminace là "illumination". Rọi sáng được đo bằng một đồng hồ độ sáng (đã điều chỉnh theo đường cong của mắt người) bằng footcandles hay lux (metric). Mức độ chiếu (rọi) sáng của ánh sáng sân khấu có thể là 25-200 footcandles hay nhiều hơn. Mắt có một sức mạnh đáng kinh ngạc về sự thích nghi và có thể thoải mái điều chỉnh mức độ chiếu sáng trong tự nhiên từ 1 đến 10.000 footcandles, hay nhiều hơn.

ĐỘ SÁNG đề cập đến cảm giác của thị giác gây ra bởi một nguồn ánh sáng khi nó tương tác với một đối tượng và sau đó là mắt. Độ sáng phụ thuộc vào cường độ của nguồn, vào khoảng cách tới đối tượng và trên các thuộc tính phản chiếu của đối tượng. Footlambert là đơn vị của độ sáng.

Thí dụ: Tại nhà hát, khi chúng ta thay đổi các thiết lập dimmer của một fixture ánh sáng, nghĩa là chúng ta đang thay đổi cường độ đầu ra của nguồn. Điều này dẫn đến một thay đổi sự rọi sáng (ánh sáng chiếu vào sân khấu) và cảm nhận của mắt là một sự thay đổi về độ sáng.

TẦM NHÌN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ là cường độ của một nguồn hay độ sáng của một đối tượng. Màu sắc, độ tương phản, khoảng cách, dịch chuyển, các điều kiện của mắt và hệ thống thị giác, tất cả đều đóng một vai trò quan trọng đối với khả năng hiển thị tầm nhìn.

Người thiết kế ánh sáng sân khấu quan tâm về độ sáng của một đối tượng nhiều hơn so với cường độ  nguồn ánh sáng của nó. Họ đã sớm biết rằng đối tượng của độ sáng cao hơn thường thu hút sự chú ý trên sân khấu. Ánh sáng thu hút! Ngược lại, bóng tối che giấu - nhưng cũng có thể đưa khán giả có cảm giác buồn ngủ. Một trong các công việc chính của thiết kế ánh sáng là thực sự giữ cho khán giả tỉnh táo. Điều này không phải là buồn cười tuy bạn có thể nghĩ như vậy, nhưng khi bạn xem xét những gì chúng ta làm cho một khán giả phổ biến. Thông thường vào cuối năm, sau khi ăn tối và uống vài ve, chúng ta cho khán giả ngồi trong ghế ngồi thật thoải mái - và sau đó tắt tất cả các đèn đi. Các người thiết kế chiếu sáng phải xử dụng sức mạnh của ánh sáng để giữ khán giả tỉnh táo và trỏ sự chú ý của họ lên sân khấu bằng cách cung cấp khả năng hiển thị thích hợp, quan tâm và trọng tâm có chọn lọc.

 

1.07 – DẠNG THỨC (FORM) và PHÂN PHỐI (DISTRIBUTTON)

 

1) DẠNG THỨC - (và PHÂN PHỐI)

P 1- 07 copy

Ánh sáng cung cấp cho các đối tượng một cảm giác về DẠNG THỨC. Mắt có thể nhận ra kích thước, hình dạng và vị trí của đối tượng. Thị lực hai mắt của chúng ta hỗ trợ quá trình này bằng cách cung cấp thêm về chiều sâu.

"Bằng phương tiện kiểm soát việc phân phối các mô hình ánh sáng và tạo ra các thành phần sáng và tối, nó có thể tạo ra cảm giác trên võng mạc sẽ được hiểu là dạng thức trong không gian". (Đề cương của ánh sáng sân khấu, S. McCandless 1964).

Dạng thức áp dụng với ánh sáng khá phức tạp. Đó là tất cả mọi thứ chuyển động, cường độ, màu sắc, và  không định hướng. Tuy nhiên, dạng thức tạo ra và chịu ảnh hưởng bởi những phẩm chất khác của ánh sáng. Dạng thức đã làm chuyện này với sự PHÂN PHỐI của ánh sáng hay ánh sáng quét vào một bề mặt và để lộ ra một đối tượng. Chúng ta thường bàn luận về dạng thức trong giới hạn của sự rõ ràng và công nhận hình dạng của nó.

Dạng thức và phân phối có thể được thảo luận ở hai cấp độ.

Trước tiên, chúng ta có thể thảo luận về dạng thức áp dụng cho các thiết lập sân khấu đối với vấn đề đối tượng xuất hiện như thế nào. Một sân khấu có thể được chiếu sáng đồng đều, nhẹ nhàng và dứt khoát từ một góc độ thấp phía trước. Cách khác, trên cùng một sân khấu, có thể có những đốm sáng không đồng đều,  nối  với các các khoang tròn từ một góc độ cao trên đầu.

Chúng ta cũng có thể thảo luận về dạng thức áp dụng cho ánh sáng được tạo ra bởi một thiết bị (fixture) ánh sáng sân khấu. (Thí dụ: "Thiết bị cho ra một chùm tia mạnh, hình vuông với một góc phân tán rất rộng".)

Dạng thức trở nên phức tạp hơn nhiều khi bạn xem xét rằng một máy chiếu hình có thể được xử dụng như một thiết bị ánh sáng sân khấu. Kết quả của công nghệ này, ánh sáng sản xuất từ ​​“fixture” có thể hoàn thành bất kỳ dạng thức, hình dạng hay phân phối nào.

Như trong tự nhiên, nguồn ánh sáng sân khấu có thể cho ra hay khuếch tán ánh sáng shadowless (không bóng) mềm hay shadow (bóng) cứng, hay bất cứ loại gì ở giữa. Các cạnh của một chùm ánh sáng cũng có thể nằm trong một giải: cạnh mềm gần như vô hình đến cạnh cứng mạnh xác định rõ. Một chùm ánh sáng cũng có thể phân phối không đồng đều, bị bể ra, như trong trường hợp của một Gobo hay mô hình của máy chiếu.

 

1.08 – MÀU SẮC (COLOR)

 

1.) MÀU SẮC

P 1- 08 copy

Tất cả ánh sáng đều có màu sắc. Ánh sáng trắng đơn giản chỉ là một hỗn hợp của tất cả các bước sóng có thể nhìn thấy (màu sắc). Mắt người nhạy cảm nhất với ánh sáng ở phần màu vàng => xanh lục của quang phổ thị giác (khoảng 550 nanomet), hơn là  màu đỏ hay màu xanh ở cuối của quang phổ.

Màu sắc thường được thảo luận về GIÁ TRỊ, SẮC THÁI và SĂC ĐỘ (VALUE, HUE, CHROMA)

Sắc thái là việc phân loại màu mà mắt nhìn thấy như đỏ, xanh lục, hổ phách, ... Giá trị cho thấy một màu sắc sáng hay tối. Sắc độ cho thấy sự tinh khiết hay độ bão hòa của màu sắc.

Những màu sắc NGUYÊN THỦY (PRIMARY) của ánh sáng là ĐỎ, LỤC và XANH (RED, GREEN, BLUE). Ba màu sắc này có thể kết hợp với nhau để cho ra bất kỳ màu nào khác, bao gồm cả màu trắng. (Các màu nguyên thủy của các sắc tố là đỏ, vàng và xanh dương).

Màu sắc THỨ CẤP (SECONDARY) của ánh sáng được hình thành khi kết hợp 2 màu cơ bản. 3 màu thứ cấp là màu HỒNG TÍM (MAGENTA) (màu đỏ và màu xanh), VÀNG (YELLOW) (màu đỏ và màu xanh lục) và XANH NGỌC (CYAN) (xanh dương và xanh lục).

Màu BỔ SUNG (COMPLEMENTARY) là sự kết hợp bất kỳ của một màu chính và một màu thứ cấp, pha trộn với nhau làm cho ánh sáng trắng. Thí dụ về các màu bổ sung: Màu HỒNG TÍM & LỤC, màu VÀNG & XANH, và màu XANH NGỌC & ĐỎ).

Khi ánh sáng trắng truyền qua một bộ lọc màu chỉ có các bước sóng tương ứng với màu đó được truyền đi. Tất cả các bước sóng khác bị hấp thụ lại. Điều này được gọi là lọc trừ (sutractive).

Khi 2 hay nhiều chùm ánh sáng màu kết hợp để chiếu sáng trên một bề mặt, nó kết hợp với nhau thông qua sự pha trộn phụ gia (additive).

Những thiết bị ánh sáng sân khấu tạo ra ánh sáng màu bằng cách xử dụng các bộ lọc bằng nhựa (plastic) chịu nhiệt độ cao. Có hơn 100 màu sắc khác nhau có sẵn từ nhiều nhà sản xuất. Những bộ lọc này “mang đi (pass)” hay “TRUYỂN (TRANSMIT)” màu sắc của riêng mình và “ngăn chận (block)” hay “hấp thụ (absorb)” tất cả những màu khác.

Đôi khi, cũng xử dụng bộ lọc màu bằng thủy tinh. Bộ lọc thủy tinh thông thường nói chung bị giới hạn trong một phạm vi của màu sắc, tuy nhiên nó rất hữu ích cho các ứng dụng yêu cầu chịu nhiệt độ cao hay kéo dài độ bền của bộ lọc. Một thế hệ mới của các bộ lọc thủy tinh “lưỡng sắc (dichroic)” đôi khi cũng được xử dụng cho các ứng dụng ánh sáng giải trí, nơi rất cần thiết màu sắc sôi động sẽ không bao giờ bị phai mờ theo thời gian. Bộ lọc lưỡng sắc được thực hiện với công nghệ màng mỏng, có thể điều chỉnh đuợc bước sóng nhất định. Các bộ lọc này truyền đi một màu sắc cụ thể và phản chiếu lại tất cả những màu sắc khác. (Không giống như các bộ lọc thông thường, hấp thụ nhưng không phản chiếu lại các bước sóng không mong muốn.)

 

1,09 – ĐỊNH HƯỚNG VÀ DỊCH CHUYỂN (DIRECTION and MOVEMENT)

 

1.) ĐỊNH HƯỚNG

P 1- 09 copy

Hướng của ánh sáng là một trong những thuộc tính quan trọng nhất trong thiết kế ánh sáng sân khấu. Tất cả ánh sáng đều được định hướng. Một ngọn nến trần tỏa ánh sáng ra tất cả các hướng. Một đèn spotlight sân khấu tỏa ánh sáng theo một hướng rất cụ thể. Trong tự nhiên, hầu hết ánh sáng đến đến từ bầu trời, từ trên cao. Ánh sáng trong nhà hát cũng thường có đúng như vị trí ánh sáng này nhất là trên sân khấu hay khán giả.

Ánh sáng thấp đằng trước thường được coi là “phẳng (flat)”. Ánh sáng góc độ rất cao có thể tạo ra những khoảng tối trên khuôn mặt của diễn viên. Ánh sáng từ nhiều hướng có thể thêm độ “tạo hình (plasticity)” và kích cỡ cho một diễn viên. Ánh sáng từ "đường viền ban công” có thể thêm bóng trên khuôn mặt của diễn viên, tuy nhiên vị trí này cũng có thể tạo ra bóng trên phông nền phía sau sân khấu hay phông cảnh. Góc độ ánh sáng rất thấp luôn luôn được kết hợp với ánh sáng nhân tạo và thường chỉ được xử dụng cho ánh sáng kỹ xảo. Đèn chân (footlight), đã phổ biến ở nhiều nhà hát, ngày nay hiếm khi được xử dụng. Rõ ràng là khi thiết kế ánh sáng phải chọn hướng ánh sáng rất cẩn thận.

Trong nhà hát, cũng giống như trong tự nhiên, “sàn (floor)” phản chiếu một số ánh sáng từ bên dưới, thường để tạo ra bóng. Chất lượng màu sắc và phản xạ của sàn sân khấu rất quan trọng và vì lý do này nó luôn luôn được lựa chọn với sự hỗ trợ từ nguời thiết kế ánh sáng.

Nhiều điều thú vị, đặc tính của ĐỊNH HƯỚNG không thực sự xem xét bởi McCandless là một trong những “phẩm chất của ánh sáng" trong “Đề cương của ánh sáng sân khấu, 1964” của mình. Ông đã thảo luận về (một thời gian ngắn) tầm quan trọng của hướng để tạo hình các đối tượng và vị trí thực tế của nguồn sáng.

2.) DỊCH CHUYỂN

Dịch chuyển trong ánh sáng thường được thực hiện, có nghĩa là bất kỳ sự thay đổi theo CƯỜNG ĐỘ, DẠNG THỨC, MÀU SẮC hay ĐỊNH HƯỚNG. Thay đổi năng động trong tất cả những phẩm chất này diễn ra trong tự nhiên một cách thường xuyên. Dịch chuyển cũng có thể bao gồm các chuyển động vật lý của một nguồn, chẳng hạn như đèn tìm kiếm, đèn hiệu cảnh sát, bánh xe màu, hiệu ứng quang học đặc biệt, máy chiếu phim, trái châu (mirror ball).v.v.

Dịch chuyển có thể rất nhanh hay huyền ảo, chậm và khó nhận ra. Như vậy có thể là trường hợp của một nguời thiết kế tạo ra ánh sáng mặt trời thay đổi chậm từ một bên của sân khấu sang bên kia trong suốt thời gian diễn. Khán giả không thể nhận thấy sự thay đổi, tuy nhiên họ có thể “cảm thấy” kết quả của sự thay đổi về mặt cảm xúc. Một ánh sáng bình minh hay hoàng hôn cũng có thể thay đổi chậm và sự dịch chuyển của ánh sáng khó nhận thấy và khán giả chỉ có thể cảm nhận được kết quả và trên thực tế đã không nhìn thấy nó.

Cho đến gần đây, dịch chuyển đã có thể tận dụng ít nhất là chất lượng của ánh sáng, do nhà thiết kế ánh sáng sân khấu. Tất cả chuyện này thay đổi từ những năm 1980 khi các thiết bị ánh sáng tự động được sản xuất. Các thiết bị tự động hiện đại có thể di chuyển hướng vật lý, chùm tia sáng của nó từ một vị trí của sân khấu này sang vị trí khác. Ngoài ra, thiết bị tự động có thể di chuyển từ một màu hay bánh xe kỹ xảo sang những cái khác, ở bất kỳ tốc độ nào. Những thay đổi và sự kết hợp về cường độ, dạng thức, màu sắc, phân phối và dịch chuyển là vô tận.

 

1.10 - NGÔN NGỮ của ÁNH SÁNG

 

1.) GIỚI THIỆU ÁNH SÁNG MÀ KHÔNG CÓ ÁNH SÁNG

P 1- 10 copy

Người thiết kế ánh sáng phải hình dung ra được các hình ảnh từ đâu đến. Họ phải có khả năng nhìn thấy được ánh sáng cuối cùng trong tâm trí của mình, từng cảnh (scene) một, rất lâu trước khi sản xuất ra tác phẩm. Thiết kế ánh sáng chỉ là tiến trình “đảo ngược công nghệ” của hình ảnh trí tuệ này và đưa nó vào thực tế.

Các nhà thiết kế ánh sáng phải học để thảo luận và biểu thị hình ảnh trực quan với các từ ngữ (word), biểu hiện (render) và tài liệu tham khảo để hiểu về nghệ thuật, lịch sử, thời đại và phong cách. Đây là một phần quan trọng của tiến trình thiết kế và truyền thông. Khi thiết kế ánh sáng, thường là một quá trình hợp tác là bắt buộc các nhà thiết kế phải tìm hiểu để giải thích đề xuất thiết kế của mình cho người khác để bảo đảm rằng hình ảnh của mình là thích hợp và thực hiện đúng cách.

Điều đó rất quan trọng để học cách xử dụng các thuật ngữ về TẦM NHÌN, TỰ NHIÊN, THÀNH PHẦN, TÂM TRẠNG, ĐỘ SÁNG, DẠNG THỨC, MÀU SẮC, DỊCH CHUYỂN, PHÂN PHỐI và ĐỊNH HƯỚNG. Các thuật ngữ và khái niệm này dưới dạng thức từ vựng cơ bản cho bất kỳ nguời thiết kế ánh sáng nào và họ phải được làm chủ được nó đầy đủ và hiểu nó tường tận.

Chất lượng ánh sáng như phát quang (luminescent), trắng đục (opalescent), trong mờ (translucent), trong suốt (transparent), lân quang (phosphorescent), huỳnh quang (fluorescent),  hay chẳng hạn như quang phổ (spectral), khúc xạ (refractive), phản chiếu (reflective), mờ xỉn (matter), và khuếch tán (diffuse) cũng  hình thành một phần của sự hiểu biết và từ vựng của bất kỳ nguời thiết kế ánh sáng nào.

2) CÁC CÔNG CỤ THÔNG TIN KHÁC

Một bộ sưu tập các “bức tranh” sao chép lại có thể là một công cụ thiết kế, công cụ giảng dạy và công cụ truyền thông tuyệt vời,. Nhiều tác phẩm “ Bậc thầy - Old Masters” với sự chú ý đến từng chi tiết về ánh sáng đáng kinh ngạc. Một số thí dụ đáng chú ý bao gồm: Claude Lorraine, Claude Monet, Edouard Manet, Johannes Vermeer, Jan Steen, Leonardo de Vinci, Edgar Degas, Georges de La Tour, Rembrandt, Renoir và những người khác. Xử dụng tác phẩm nghệ thuật với một quá trình nghiên cứu và nói với nó là có thể xác định dễ dàng và thảo luận một số lượng lớn các phẩm chất ánh sáng khác nhau: phong cách, tâm trạng và cảm xúc.

Thiết kế ánh sáng cũng có thể sản xuất phác thảo hay biểu hiện ra, hay xử dụng các chương trình CAD (máy tính hỗ trợ thiết kế) để hỗ trợ trong quá trình thảo luận về ánh sáng. Mặc dù còn xa mới hoàn hảo, nhiều chương trình CAD cung cấp hình ảnh hình ảnh thực tế với ánh sáng rất chính xác và cụ thể. Là một trợ giúp cho việc thiết kế, những công cụ này có thể chứng minh là rất hữu ích, tuy nhiên tất cả đều dựa trên thiết kế đầu tiên để có một vốn từ vựng về các mục tiêu và những phẩm chất của ánh sáng.

(Còn tiếp: Phần 2 / 7: Các phương pháp thiết kế tổng quát)

(Theo Bill Williams)


 

Viietnamese Keyboard

  [F9]
  (?)
  (?)
  (?)
 
  [F12]
  [F7]
  [F8]