HOME SOUND

Miscellaneous items

Login Form



Who's Online

We have 50 guests online
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday61
mod_vvisit_counterYesterday656
mod_vvisit_counterTotal2181211

IP: 23.22.61.134

Home » STAGE TECHNIC » Pro Lighting


Những console ánh sáng hàng đầu thế giới
Written by tuyenphuc   
Sunday, 16 June 2013 11:31
0.0/5 (0 vote)

 

Bài này trích ra từ bản dịch chương 11 cuốn Ánh sáng Ca nhạc (Concert Lighting) của tác giả James L. Moody, đã và đang đăng tải bên website giáo trình. Những console này, tôi cũng chưa hề thấy bao giờ, chỉ mới được xài qua Diamond III và Pearl của Avolites. Hy vọng ngày nào đó, VN ta sẽ có những cái này.

LTP

 

            (Những thuật ngữ tiếng Anh và Việt nói chung, tên gọi thiết bị điều chỉnh ánh sáng đều có quá nhiều. Trong phạm vi bản biên dịch này, tôi xin rút gọn lại còn một từ tiếng Anh duy nhất: Console, ngoại trừ những tên ít xử dụng sẽ viết nghiêng – ND)

Những tiến bộ lớn trong thiết kế console, đặc biệt là công cụ máy tính, không thể bỏ qua, nhưng sẽ không công bằng khi nói nó xuất hiện hoàn toàn vì nhu cầu cho rock & roll thành lập những hãng sản xuất vào thập niên 1970. Đúng là các bảng hướng dẫn xử dụng phức tạp nhất của thập niên 1980, với nút flash (nút mở tức thời), chasers (nhóm tự động hẹn giờ thay đổi), và ma trận pin (bảng shunt cho phép fader xử lý vận hành dimmers ngẫu nhiên); không có sẵn những hạng mục tiêu chuẩn trong console nhà hát vào thập niên 1970. Cho đến thời điểm đó, hầu hết console điều khiển ánh sáng đều giống nhau khá nhiều, ngoại trừ những cái này có thể thiết lập những preset thủ công gắn vào console. Có vài khái niệm rất khéo léo, bao gồm cả một hệ thống mặt trống (drum), được thiết kế bởi giảng viên và người thiết kế huyền thoại George Izenour tại Trường Drama Yale. Tôi có đặc quyền và đôi khi nhờ ông ấy thực hiện dùm tại Đại học California, Los Angeles, như nghiên cứu sinh và sau đó tại Casino Harrah ở Lake Tahoe, California. Tiêu chuẩn hiện nay là có grand master để kiểm soát tổng công suất của bất kỳ hệ thống điện áp thấp hãng sản xuất xử dụng (không đúng tiêu chuẩn). Hai scene master sẽ có quyền kiểm soát master của tất cả channel, thường không hơn 48 channel riêng biệt (dimmers). Một group submasters, một cách để nhóm những channel riêng rẽ, có thể cộng thêm vào. Không có gì khác ngoại trừ ý tưởng "wing" của George nói chung là sẵn.

Sau đó, những công ty ca nhạc người Anh bắt đầu làm bàn (desk) riêng của họ, desk thuật ngữ mà họ thích xử dụng, thay vì console hay board. Board preset bằng tay ra đời trước đó bởi Electrosonics, một công ty Anh (vẫn còn tồn tại, mặc dù hiện nay họ chỉ phát triển thiết bị video server), dựa trên khái niệm về bố cục tôi đưa cho họ (hình 11.1) và có lẽ đây board sản xuất đại trà xử dụng nút flash và ma trận pin đầu tiên, nhằm mục đích cụ thể là có mặt tại thị trường ca nhạc. Showlites, công ty cho thuê London do Eric Pearce làm chủ đã mở cửa vào đầu năm 1970, bắt đầu sản xuất sản phẩm console ánh sáng Alderham, cùng với hệ thống dimmer vào năm 1976, và vẫn được xử dụng cho đến thập niên 1980. Desk rock & roll, như họ gọi tên, có hai preset (cài đặt trước), mỗi cái có 60 faders, 20 submasters, và ma trận pin 20 x 60. Model Alderham 602 không có CPU và tất cả đều nối dây bằng tay. Ian "Avo" Whalley, một kỹ thuật viên lưu diễn vào thời điểm đó, tiếp tục phát triển nó và bắt đầu ra AVOLITES vài năm sau. Hình 11.02 cho thấy Avolite QM-500 của ông ta.

 Figure 11-01

 

Hình 11.01: Console Electronic

Figure 11-02

Hình 11.02: Avolite QM-500.

Khoảng thời gian này, những hãng sản xuất lớn đã chuẩn bị đưa ra bàn điều khiển dựa trên máy tính. Họ tin không có thị trường cho một console thủ công phức tạp hơn, nhưng sau đó họ đã không thấy rock & roll là thị trường tài chính có ích, hay quá dở. Không phải là sự ra đời của máy tính là sai, nhưng người thiết kế ánh sáng cho rock & roll vẫn nghĩ họ cần điều khiển console cho âm nhạc và máy tính phun ra một chuỗi cue đã lập trình không thể đáp ứng nhu cầu của họ. Khi tôi lấy bộ máy tính đầu tiên cho tour (Light # 2 Palette bởi Strand), công ty giao nó mà không cho hướng dẫn xử dụng. Tôi xử dụng nó lần đầu trên tour lưu diễn châu Âu cho John Denver vào năm 1978 mà chưa bao giờ xử dụng nó trước trên một live show nào, chỉ mầy mò trong cửa hàng của tôi.

Tất cả các tour lưu diễn rock & roll đã thay thế những model trước đó bằng console máy tính điều khiển và thậm chí bằng tay. Điều cần thiết hiện nay, không chỉ cho lưu diễn rock & roll, nhưng cho ánh sáng xử dụng moving light, media servers, hay tường LED, hệ thống hỗ trợ việc xử lý số lượng lớn các channel cần thiết và dễ lập trình nâng cao.

Lý do chính tại sao hầu hết người thiết kế ánh sáng ca nhạc dành thời gian để điều chỉnh lập trình trước cho console, là họ muốn khi chơi bằng tay cảm thấy cho phép họ chơi nhạc, để có thể kích hoạt những nút flash và faders cùng thời điểm với âm nhạc. Người thiết kế cho biết họ cần điều khiển bằng tay để cảm nhận được một phần âm nhạc, và họ không có cảm giác đó khi họ chỉ chạm vào một nút để thực thi một lệnh phức tạp. Những cái tôi thích về máy tính, mặc dù, là có thể chắc tôi sẽ thấy nó giống hệt nhau từ show này qua show khác, đó là những cái khách hàng của tôi muốn. Không ai trong chúng ta muốn bị bất ngờ, ít nhất là trong show lưu diễn. Có thể nói điều tương tự về showroom ở Las Vegas, nơi nhiều nghệ sĩ cuối cùng bắt đầu thực hiện. Vài người thiết kế ánh sáng lương cao đã phát hiện ra họ không phải ở lại đến khi hoạt động đã suôn sẻ, với máy tính, nghệ sĩ và người thiết kế có thể chắc chắn người vận hành tại chỗ sẽ chạy những cue đã lập trình khá tốt.

Tuy nhiên, có những lúc cảm nhận show live là tốt nhất, chẳng hạn như tại những show diễn một lần, khi chưa diễn tập đủ hay tại lễ hội nghệ sĩ không dùng toàn bộ giàn truss ánh sáng. Trong những trường hợp này, người thiết kế ánh sáng có thể đóng góp cho giai điệunhịp đập của show ngẫu hứng. LD (lighting designer) có thể thiết lập một series bảng màu, thay vì lập trình trước những scene, cho những tùy chọn kết hợp khác nhau - thí dụ, chỉ định màu, gobos, và sự quét khác nhau để làm bộ moving light "live-sống" lên. Tính tự phát có thể làm hứng thú cho cả khán giả lẫn người thiết kế.

Có nhiều lý do tại sao người thiết kế có thể chọn một console đặc biệt, sở thích này của họ có thể so sánh với nhạc sĩ muốn có piano của hãng sản xuất yêu thích của mình. Điều này một phần là do quen thuộc và thoải mái mức nhất định, chắc chắn. Trong vài trường hợp, người thiết kế có thể có nhu cầu như vậy, đơn giản là họ không có thời gian để thoải mái với một thiết bị khác, ngay cả khi một console mới khác có thể làm việc tốt hơn cho dự án của họ. Và, vì có sẵn rất nhiều tùy chọn, theo kịp nó sẽ khó hơn. Những thảo luận sau đây cung cấp thí dụ cho vài model hiện đang thịnh hành.

Hướng khác là sự bổ sung cho console cao cấp những chương trình trực quan, cho phép người thiết kế và người lập trình xem cue sẽ ra sao khi họ làm ra nó. Điều này vô cùng tiện dụng, vì hầu hết sẽ cho phép bạn in ra cho người quản lý hay nghệ sĩ coi, để họ có ý tưởng tốt về người thiết kế đã lên kế hoạch ra sao. Vài chương trình này có thể xử dụng trực tiếp trong tiến trình thực hiện, cho phép chỉnh sửa ngẫu hứng.

CONSOLE ĐẠI TRÀ (HANDS-ON)

Nhóm này console này thường được ưa chuộng cho các sự kiện live, chẳng hạn như lễ hội hay show biểu diễn một lần. thiết kế trên nền tảng đơn giản, không cần lập trình phức tạp hay không xử lý được nhiều cue. Những console này có thể dùng cho show truyền hình hay các sự kiện đặc biệt khác cũng không cần mắc tiền như console phức tạp hơn hay không dùng nhiều moving light hay hiệu ứng. Dựa trên phương pháp thủ công cũ, khái niệm two-scene với nhiều submasters và một master chung, được mở rộng để có ý niệm về ca nhạc qua những nút flash, cho phép từng channel hay nhóm channel gán cho một submaster cho ra công suất lập tức mà không cần đẩy fader xử lý lên xuống. Nó cho người vận hành khả năng vầy vọc console. Ý tưởng này có căn nguyên từ khái niệm gọi là tổ chức ánh sáng (light organ). Trong thế giới hiện nay, light organ là một thiết bị điều khiển độ sáng theo mức độ âm thanh - đó là, nếu âm thanh lớn, ánh sáng sẽ sáng hơn, âm thanh nhỏ đi thì ánh sáng cũng mờ theo. Một color organ là thiết bị hơi phức tạp hơn với vài channel, mỗi cái nhạy cảm với một phần phổ âm khác nhau. Vì vậy, nốt nhạc thấp có thể flash ánh sáng xanh, nốt trung làm sáng màu vàng, và nốt cao có thể flash ánh sáng đỏ. Cho mỗi channel, những âm thanh lớn ứng với cao độ quy định, làm đèn sáng nhiều hơn.

Expression 3

Có lẽ console phổ biến nhất là Expression 3 của Electronic Theatre Controls - ETC (hình 11.03). Console này đã sống một thời gian, và gần đây bị lưu trữ (không còn sản xuất), tuy nhiên, nó hiện diện rất nhiều trong nhà hát khu vực, đài truyền hình, cơ sở giáo dục bao gồm trong chương này.

Figure 11-03

Hình 11.03: ETC Expression 3.

Theo ETC, họ đã giao 6085 console, và nghiên cứu của họ cho thấy vẫn còn 90% đang xử dụng. Dòng console này có nguồn gốc vào năm 1982. Nó có 24 submasters trên 10 page, 2 bộ faders cross, và 5 bộ mã hóa thuộc tính cho những cần điều khiển cần thiết để lập trình moving light 1536- DMX-512 dimmers / thuộc tính trên 400/800/1200 channel và 600 cue. Nó cũng có tính năng giới thiệu bảng Light Palette ban đầu (sẽ thảo luận sau trong chương này) - fader wheel / timer. Đây là bánh xe quay bất tận, không có điểm 0 hay 100% cố định. Người thiết kế không cần liên quan đến một số nào, chỉ cần xem phản ứng hình ảnh, và máy tính có thể ghi nhớ nó. Nó cũng có thể sửa đổi fade time lên xuống bằng cách xử dụng "take controll", phương pháp liên lạc có thể tăng hay giảm tốc độ fade retimed lập tức, do đó cho phép người thiết kế thay đổi tốc độ phù hợp với tempofade của ban nhạc.

Ion

Ion cũng của ETC, thay thế cho Expression 3. Thiết kế của nó có thể tiến hóa từ console Strand 300 series cũ mà nó cần hệ thống tiếp cận các thành phần có thể tham gia vào vài cấu hình nâng cấp (add-on). Thiết bị Ion cơ bản (Hình 11.04) rộng 19 inch, kiểm soát đèn thông thường và moving tốt như nhau. Nó bao gồm những fader split-chia, một grand master, bốn bánh xe chức năng (function wheels), bàn phím, và trên thiết bị chính không có submasters; có thể thêm nhiều submasters / controll channel có thể lên đến 6 "fader wing" của 1 x 20, 2 x 10, 2 x 20, cho ra tổng cộng 240 submasters bổ sung control paging. Hệ thống có thể hỗ trợ một hay hai màn hình video kỹ thuật số độ phân giải cao (DVI) bên ngoài (cũng có thể là màn hình cảm ứng). Cấu hình có 1024 đến 2048 output, với số lượng channel từ 1 đến 5000 có sẵn. Một tính năng nữa là Ion có thể được xử dụng như một trạm lập trình từ xa cho hệ thống Eos. ETC nói phong cách hoạt động của nó giống như Eos, có thể giúp người vận hành chuyển sang console cao cấp dễ hơn nhiều.

Figure 11-04

Hình 11.04: Ion của ETC

Leprecon LP -1600

Console này trong phạm vi console chất lượng nhưng giá rẻ. Series Leprecon LP -1600 tương tự như Ion, nhưng không khả năng điều khiển moving light, vì thiếu bộ mã hóa chuyên dụng (hình 11.05). Nó là một console xử dụng tay đúng nghĩa kèm theo bộ nhớ. Kích cỡ khoảng từ 24/48 đến tối đa 48/96 channel. Một bộ nhớ cue hạn chế chỉ cho phép có 288, nhưng cue point có thể được thêm vào trên đầu con số này. Một ổ đĩa và output màn hình VGA là tùy chọn. Để công bằng, Leprecon làm hai console điều khiển moving light thư viện đèn là model LP-X24 (512 channel) và LP-X48 (192 channel).

Figure 11-05

Hình 11.05: Leprecon LP -1600

AVOLITES Diamond

Nằm trong hạng mục phát triển hằng loạt, vì họ đã giữ lại faders channel trên console logic là Series AVOLITES Diamondseries console nhỏ hơn Series Pearl. Diamond Vision 4 (hình 11.6) được đặc trưng trong ấn bản hai của sách này cách đây hơn 14 năm và vẫn còn là một console được đánh giá cao. Nó được thiết kế cho show, lễ hội, và ca nhạc quy mô lớn. Những tính năng trên console được nhiều người thiết kế đánh giá cao, là kết quả của tiến bộ kỹ thuật cũng như từ người thiết kế cho tour. Nó 28 master cue playback cho hơn 200 page với 128 faders preset, bây giờ cũng có thể kiểm soát chase, cue list, hay cường độ đèn cho hơn 1000 bộ đèn. Thuộc tính (attribute) và đèn cũng gấp nhiều lần. Một tính năng (feature) thú vị Avolite gọi là "dedicated buttons for theatre plotting" cấu hình gấp đôi (dual theatre) palette màu, group, đèn, và cue. Thiết có tám output DMX-512, cũng như khả năng dùng Ethernet. Đây là một console ánh sáng huyền thoại cho rock & roll được đánh giá cao bởi những lập trình viên và thiết kế ánh sáng hàng đầu thế giới. Tôi thấy những dịch vụ có giá trị cho series console này từ Anh đã nhiều năm nay.

Figure 11-06

Hình 11.06: Avolites Diamond 4 Vision

CONSOLES CHUYÊN DÙNG CHO MOVING LIGHT

Lịch sử của Hog đằng sau sự phát triển và tên Wholehog là một console được thiết kế bởi Nick Archdale với Andy Neal. Họ đã xử dụng desk DLD6502 đã xây dựng để chạy dimmer, scroller, và đèn Clay Paky Goldenscans từ 1988 đến 1991. Trong năm 1988 và 1989, họ chuyển sang SpotCo, và bàn DLD từ lúc đó được sự chú ý của Peter Miles và Tim Bayliss, người đã thấy tiềm năng cho một console trên thị trường đèn lắc kính (wiggle-mirror) dùng DMX. SpotCo ở London cung cấp một phần tiền hạt giống và đã khuyến khích phát triển console mới, kế hoạch chi tiết đã hình thành phần lớn trong đầu Nick, ông đã dành nhiều thời giờ nghiên cứu DLD6502, Vari * Lite series 100, và console Artisan . Ông bay đến Hoa Kỳ vào năm 1991 để tìm Tom Thorne. Họ lái xe trên khắp đất nước vào mùa hè năm đó và hình thành tên hệ thống Flying Pig và Wholehog. Sau đó, họ làm việc trên hệ thống này gần 10 tháng trước khi những mẫu thử nghiệm đầu được xử dụng cho ban nhạc Ireland, Simply Red. Hình 11.07 cho thấy console đầu tiên, DLD Serial số 001, dưới hộp kính trong tiền sảnh của Lightpower GmbH tại Paderborn, Đức, hiện nay.

Figure 11-07

Hình 11.07: Wholehog DLD Serial No. 001

Hệ thống Flying Pig được thành lập vào năm 1991, và console Wholehog đầu tiên được trưng bày tại show của Professional Lighting and Sound Association (PLASA) vào năm 1992. Họ cảm thấy có những khoảng trống trong thị trường mà họ có thể lấp đầy bằng những console phục vụ tốt cho đèn thông thường cũng như đèn tự động. Nick giải thích: "Do ý tưởng 'going whole hog' về việc kiểm soát nhiều loại thiết bị có số lượng lớn".

Wholehog là sự khởi đầu về console logic. Ý tưởng về tham số (parametric), lập trình ưu tiên cao dùng highlight, mù-blind, và rõ (clear), cũng như thư viện thiết bị, xuất hiện đầu tiên trên Wholehog. Hình ảnh sơ đồ treo (rig) hai chiều đã hiển thị để xem vị trí của tất cả đèn. Nhưng, có lẽ điều cơ bản nhất là ... bạn có thể mua một cái! Cho đến lúc đó, Vari*Lite đã từ chối bán đèn hay console của họ, chỉ cho thuê.

Wholehog II (hình thành vào năm 1993 và phát hành vào năm 1995), được trìu mến gọi là "Son of Hog – Heo con" không có sơ đồ giàn rig và vài ngàn channel, nhưng đã đạt hiệu ứng real-time, không gian ba chiều (vị trí lập trình XYZ và cập nhật), và tích hợp "cái bạn thấy là cái bạn " (what you see is what you get - WYSIWYG). Flying Pig tài trợ cho hạt giống visualizer Cast WYSIWYG, sản xuất card DMX, chọn tên (xem Chương 21), và cuối cùng là thêm việc xử dụng màn hình cảm ứng.

Không giống như Wholehog ban đầu, được thiết kế cụ thể cho board đi lưu diễn, Wholehog II sản xuất ra cho thị trường rộng hơn, nhiều loại có thể nghĩ ra (thí dụ, sân khấu, truyền hình, hội chợ, triển lãm thương mại), hình như họ đã đạt mốc đó, vì đã bán được hàng ngàn cái.

Wholehog III là phiên bản mới nhất. Ý tưởng chung là tạo ra hệ thống có khả năng mở rộng, do đó, tất cả việc xử lý DMX và IO được chuyển ra khỏi board để kết nối mạng (Ethernet), có thể thêm vào nhiều thành phần theo yêu cầu. Đây cũng là điểm nhiều cú pháp được thay đổi để phù hợp với kỹ thuật máy tính hơn, nhưng Nick cho biết, ông cảm thấy phần tốt nhất là thư viện model thiết bị trừu tượng, dùng từ ngữ của thiết bị thật tế, để việc kiểm soát bất kỳ thiết bị đèn nào cũng chính xác như nhau, do đó cho phép console Holy Grail (Chén Thánh) khả năng trao đổi hay sao chép các loại thiết bị đèn và bảo vệ tất cả chương trình.

Hệ thống High End đã mua hệ thống Pig bay vào năm 1999 và đã phát triển sản phẩm vào năm 2003. Sau đó, hệ thống High End đã bị bán cho Barco, nêu trong Chương 1.

Heo nọc chạy đầy đường (Boar Full Road Hog)

(Đặt tên console quá hài: boar đồng âm với board, có nghĩa là heo nọc, hog là heo thiến - ND).

Console hiển thị trong hình 11,8 Wholehog III bao gồm nhiều tính năng tương tự. được trang bị phần mềm bay Flying Pig System và có thể tạo ra, quản lý, chỉnh sửa, và cho chạy moving light tại vài tốc độ nhanh nhất hiện nay. Tính năng nó có một trackball có đèn nền với bốn nút cấu hình cho con trỏ (cursor) và điều khiển vị trí và mười faders playback kèm những tính năng điều khiển quen thuộc: lựa chọn-choose, đi-go, tạm dừng-pause, và flash - với cường độ chuyên dụng, bánh xe tỷ lệ và 36-phím mềm để lựa chọn thanh công cụ (tool bar) nhanh. Thường thì Wholehog sẽ xử dụng chung với một console thứ hai dành riêng cho đèn thông thường. Sự kết hợp này trên một tour lưu diễn hay truyền hình đặc biệt không bất thường.

Figure 11-08

Hình 11.08: Road Hog Full Boar.

Virtuoso DX2

DX2 Virtuoso console (Hình 11.09) PRG được thiết kế để xử lý moving light ngay từ đầu. Đèn Vari*Lite series 300 là mục tiêu chính của nó. Console này ban đầu được xây dựng bởi Vari*Lite nhưng đã cập nhật và sản xuất bởi PRG, tuy nhiên, còn cho đèn kỹ thuật số và thông thường ở nhà nữa. Ngoài ra nó còn có 8 DMX-512 output và hỗ trợ hơn 600 universe, nó có giao thức Ethernet. Hệ thống này có lập trình môi trường ba chiều tích hợp đầy đủ cung cấp màn hình hiển thị trạng thái real-time và chỉnh sửa offline. Dựa vào nền tảng Mac, không giống như hầu hết những loại khác dựa trên PC. Để chứng minh console này phù hợp với media servers, nó có một cửa sổ media để kiểm soát đồ họa và bản xem trước của rất nhiều files yêu cầu cho ánh sáng kỹ thuật số. Đối với moving light, nó cung cấp hơn 2000 tham số, 2000 đến 10.000 cue cho mỗi đèn, 1000 preset, và 1000 hiệu ứng. Thêm 1000 cue của board, 1000 group, và 30 submasters và bạn có bộ điều khiển moving light và hệ thống ánh sáng kỹ thuật số rất mạnh.

Figure 11-09

Hình 11.09: Console Virtuoso DX2.

V676

V676 đăng ký vào thị trường gần đây bởi PRG. Trong thật tế, nó chưa sẵn sàng phân phối tại thời điểm viết bài này (2010). Có người nói cuối cùng sẽ thay thế Virtuoso DX2 nhưng điều này chưa được PRG xác nhận. Console V676 (Hình 11.10) được thiết kế trực quan cho lập trình viên. Công ty khẳng định tốc độ phi thường, cả trong lập trình lẫn đáp ứng, cũng như các tiến bộ sáng tạo giao diện trong thiết kế phần cứng và phần mềm. Trong động thái khác thường, bộ CPU được gắn phía ngoài console, một máy tính Apple Mac Pro Quad-Core, đồ họa tốt hơn và xử lý nhanh hơn. Console được tiếp thị cho moving light và media kỹ thuật số.

Figure 11-10

Hình 11.10:   Console V676

CONSOLE NHÀ HÁT (THEATRE)

Có thể không thiên vị khi tạo sự khác biệt này vì nhà hát rất nhiều kế hoạch (plan) cue ánh sáng rất phức tạp cho kịch và nhạc kịch của , và bạn thường thấy moving light, hiệu ứng và những media khác. Không thiên vị khi nói tất cả hãng sản xuất console ánh sáng truyền thống đã đánh thức nhu cầu console của họ về mặt kỹ thuật, phù hợp với ánh sáng đa dạng hiện nay, như những show của công ty, công viên giải trí, múa, kiến trúc, và opera, cũng như ca nhạc . Trong tất cả trường hợp này, có một cơ hội tốt, lên đến vài trăm moving light sẽ bao gồm trong plan ánh sáng, do vậy, console 48-channel, two-scene với split-faders và grand master sẽ không làm việc nữa, ngay cả với nhà thờ.

Expression 3

Expression 3, ETC, như đã nêu trong chương này, rất phổ biến và sẽ vẫn còn trên thị trường trong nhiều năm tới.

Strand Light Palette V L

Strand lighting vẫn giữ ảnh hưởng với series Palette light của họ. Light Palette VL (hình 11.11) mới nhất trong series, dựa trên palette cổ điển, từ thập niên 1970, nó đã tính năng nổi bật của show Broadway thời gian gần đây. Light Palette VL thêm 24 submasters và một bàn phím 100-phím hoạt động trực tiếp. Nó cung cấp công suất như một console truyền thống với 2 fader cross timed và kết hợp 12 faders submaster / playback với 4 bộ mã hóa quay và touchpad tích hợp bên trong. Nó có CPU multi-core cho hiệu suất tối ưu, một palette màu để lựa chọn màu trực tiếp, 2 timed playback, 12 faders playbacktruy cập trực tiếp, 4 nút vặn mã hoá, và 2 grand master, nhưng màn hình cảm ứng là tùy chọn. Năng lực bộ nhớ lên đến 8000 controll channel / thuộc tính. Console này đi kèm với bốn output DMX-512 tùy chọn màn hình cảm ứng.

Figure 11-11

Hình 11.11: Light Palette VL

Congo v5

Congo đã được phát triển khi Electronic Theatre Controls (ETC) mua lại dòng console của Avab. Khi ETC thông báo họ đã mua lại dòng Avab, họ chào hàng thật tế là cả hai công ty đều thiết kế console trên 30 năm. Thông cáo báo chí cho biết, "ghép chung với nhau những kỹ thuật sáng chói và kinh nghiệm của hệ thống ETC và Avab, Congo duy trì vẻ đơn giản của hệ thống cổ điển với các chức năng, tính năng phong phú của một console chuyên dụng cho moving". Hãng sản xuất đã cố duy trì những chức năng yêu thích cho công việc của nhà hát hàng ngày với đèn thông thường nhưng được thêm vào các điều khiển tiên tiến cho hàng trăm moving light. Console Congo (Hình 11.12) cho phép người xử dụng di chuyển channel độc lập như đèn làm việc, đèn dẫn, follow spot, và kiểm soát máy khói sang phần đặc biệt, không bị ảnh hưởng bởi phần còn lại của hệ thống. Thiết bị đi kèm với một cặp fader playback có phong cách nhà hát chính, 40 master đa năng cho group submasters, một submaster, hiệu ứng và sequence bổ sung, 40 lựa chọn trực tiếp, và một phần kiểm soát moving light chuyên dụng. Trong năm 2008, công ty phát hành Congo v5, chủ yếu là nâng cấp phần cứng nhưng cũng khắc phục những khiếm khuyết.

Figure 11-12

Hình 11.12:     Congo v5

CONSOLE GHÉP (HYBRID)

Console ghép không theo phương pháp channel cũ. Nhiều cái trong số này, thậm chí không tồn tại, còn gọi bộ điều khiển một “fader”. Những console này chi phí hàng chục ngàn đô la, lớn hơn giá trị của nó. Nếu nhu cầu của bạn biện minh cho sự tinh vi và phức tạp mà cung cấp. Tôi đã nói chuyện với những người vận hành (operator), vài người thừa nhận họ cảm thấy đã không đụng chạm tới nhiều khả năng của thiết bị trong nhóm này, nhưng phải lo nghĩ nhiều hơn, cố làm show càng tinh vi hơn. Có nhiều lần, chẳng hạn như trong giờ nghỉ giải lao show Super Bowl, rất nhiều console phải liên kết với nhau để vận hành show. Tour lưu diễn thường hoạt động với nhiều console. Trong vài trường hợp, có thể dùng hai thiết bị khác nhau để xử lý tốt nhất những phần cụ thể của hệ thống ánh sáng, chẳng hạn như đèn thông thường, moving light.

HOG iPC

Console Hog iPC, bộ điều khiển tầm trung nhỏ, cho người lập trình rất nhiều tính linh hoạt (hình 11.13). Nó được thiết kế để xử dụng kiểm soát hệ thống Wholehog 3, vì vậy bạn sẽ có các tính năng và các chức năng tiên tiến, nhưng nó lại không tương thích với phần mềm Wholehog 2 trước đây. Đó là hybrid đầu tiên của ngành công nghiệp console.

Figure 11-13

Hình 11.13:   Hog IPC

Hog IPC xử dụng bốn universe DMX output trực tiếp từ console, mở rộng đến tám universe xử dụng DMX USB Widgets hay USB DMX Super Widget. Có thể dùng universe DMX với lượng không giới hạn khi nối mạng DMX processor (DP). Thiết bị có hai màn hình 12-inch độ sáng cao, cảm ứng màu, góc nhìn điều chỉnh được, và 3 tùy chọn màn hình hay màn hình cảm ứng có thể nối với cổng DVI của console, cho phép thêm cửa sổ để coi và điều chỉnh cùng lúc trên nhiều màn hình. Một trackball backlit với bốn nút configurable cho vị trí con trỏ và kiểm soát. Controll playback của Wholehog 3 bao gồm lựa chọn, go, pause, và flash. IPC Hog có một ổ đĩa cứng nội bộ, một ổ đĩa CD-ROM rewriteable, và 5 cổng USB cho màn hình cảm ứng, ổ cứng ngoài, máy in, và các phụ kiện của Wholehog (thí dụ, playback wing expansion wing, và USB DMX Widgets bổ sung). Một jack nối Ethernet cho phép giao tiếp với máy tính Hog 3PC, console Hog Boar Road Full, console Hog iPC khác, và hệ thống console Wholehog 3 và các thiết bị. Có chức năng điều chỉnh từ xa khi nối mạng với máy tính chạy phần mềm Hog 3PC.

Eos

Dòng Eos của ETC (Hình 11.14) là thương hiệu như Complete Control ™. Nó đã giành vài giải thưởng cho sự đổi mới sau khi phát hành vào năm 2007. Tài liệu của ETC nói nó cho phép điều khiển đơn giản, gần gũi trong môi trường lập trình, sắc thái, với độ sâu và sức mạnh chưa từng có. Ý tưởng về truy cập rất nhanh, dễ truy cập moving light nhưng không hy sinh những cái cần thiết để kiểm soát đèn thông thường,phần chìm họ muốn đạt được.

Console này, cùng với GrandMA, là console đầu tiên phải suy nghĩ lại về những chức năng phổ biến có thể xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau, thậm chí khá đơn giản. Bằng cách mất nhiều thời gian với những người thiết kế ánh sáng, lập trình, và thợ điện, công ty đã có thể phát triển nhũng giải pháp trực quan trong khi giảm tổ hợp phím bấm. Người vận hành có thể ra một lệnh thông qua bàn phím hay điều khiển màn hình cảm ứng. Vài người gặp vấn đề với màn hình cảm ứng, đã cảm thấy, nếu không nhìn vào điểm họ đang chạm, thì không thể chắc chắn họ đã ra lệnh. Eos cho biết họ đã tìm ra một cách để cho màn hình cảm ứng linh động tạo ra có cảm giác như nút nhấn, do đó, người vận hành có thể để mắt trên sân khấu, không cần chăm chú vào console. Thêm vào đó, đã loại bỏ con chuột. Người vận hành truy cập các chức năng lập trình thường xử dụng qua nhiều nút, dễ dàng trong tầm tay. Mỗi thiết bị trên hệ thống có không gian làm việc riêng biệt, người thiết kế không phải hy sinh nhu cầu của họ cho những người lập trình. Phân vùng kiểm soát cung cấp một phương pháp an toàn và hiệu quả lớn cho người lập trình để đưa nội dung chương trình vào một file. Tất cả điều này đi kèm với 10.000 channel (thiết bị); 4000, 8000, 12.000, và 16.000 output / thông số, một cặp fader master playback chuyên dụng, 10 fader có motor với 30 page controll; 999 cue list, 200 playback active , 300 submasters; 3 grand master; pan / tilt hay encoder (bộ mã hóa) XYZ chuyên dụng, 4 page encoder; 2 màn hình cảm ứng LCD 15-inch tích hợp; và bảng ma thuật điện tử (electronic magic). Output của console có thể xử dụng Net3 (ACN based) mới, sẽ thảo luận trong chương 20, và thiết bị có sẵn ETCNet2, cũng như nhiều input MIDI và SMPTE.

Figure 11-14

Hình 11.14:   Eos của ETC

Maxxyz

Maxxyz (Hình 11.15) đứng đầu dòng console ánh sáng chuyên nghiệp của Martin, nó có vài tính năng độc đáo và độc nhất. Console có sức mạnh xử lý cực nhanh, truy cập trực tiếp đến đèn, máy phát hiệu quả, kết nối USB, fader có motor, màn hình cảm ứng, và mã hóa thời gian SMPTE / VITC / LANC / MIDI. Maxxyz là loại hình đầu tiên kết hợp những nút LCD kỹ thuật số, được thiết kế cho phù hợp, lập trình linh hoạt. Tính năng này cho phép người lập trình nhóm trực tiếp nhiều chức năng vào một nút LCD và tùy chỉnh cách bố trí console để dễ điều hướng và làm nó công nhận nhanh hơn.

Visualizer ba chiều của Maxxyz được tích hợp đầy đủ vào phần mềm console. Visualizer cho phép người thiết kế coi trình diễn ánh sáng ba chiều rất thật tế. Xem trước real-time đầy đủ, cho phép người thiết kế tạo ra và tinh chỉnh thiết kế, không làm gián đoạn show đang diễn. Console này không những bao gồm tất cả các nhu cầu về ánh sáng nhưng còn tích hợp đa phương tiện, hiện nay tour lưu diễn đang đòi hỏi. Console có một ổ đĩa DVD / CD rewriteable, do đó có thể đồng bộ hóa show ánh sáng của bạn với âm thanh và video. Các ổ đĩa kết hợp cũng cho phép lưu chương trình của bạn vào đĩa CD. Maxxyz cũng có 39 GB không gian có sẵn cho mục đích sao lưu. Ngoài 8 universe DMX có sẵn trực tiếp từ console, Maxxyz cũng kích hoạt toàn bộ Ethernet. 32 universe DMX tuyệt vời của nó, 8 trong số đó có sẵn trực tiếp từ console, là console lý tưởng cho những ứng dụng màn hình LED lớn. Sức mạnh xử lý đôi (hai CPU Pentium) điều khiển lên đến 16.384 bộ đèn, 1000 cue list với fader có motor và 1000 cue list với nút điều khiển playback chạy vòng là những tính năng ấn tượng của EOS.

Figure 11-15

Hình 11.15:   Maxxyz

grandMA (bà nội?)

Thông báo dài mong đợi đã đến, liên quan đến việc phát hành grandMA2 của người Đức (hình 11.16) MA Lighting và tiếp thị tại Mỹ bởi ACT Lighting. MA tên viết tắt của một trong những đồng phát minh, Michael Adenau. grandMA là sản phẩm của hai người phát minh hợp tác với Lightpower để cho ra một series console, chẳng bao lâu đã được trò chuyện khắp cộng đồng ca nhạc lưu diễn. Nhiều tính năng bây giờ mới nhìn thấy trên Congo và Eos đầu tiên, đã đưa vào thiết kế cấp tiến của grandMA ban đầu. Tính năng của grandMA tích hợp rộng rãi đèn thông thường, moving light, đèn LED, và media server trong một console. Đó là console đầu tiên có màn hình cảm ứng và khái niệm fader và submaster cho executor (điều hành). Nó có 20 fader gắn motor có thể chạy một channel duy nhất, một tín hiệu duy nhất, cả sequence, hay toàn bộ chương trình. Mỗi executor có 128 page, và cũng có khoảng 40 nút executor bổ sung. Cho moving light, có 4 bánh xe encoder chấp nhận 2048 hay 4096 thông số và một trái banh (ball) để pan và tilt. Những tính năng khác của nó là không hạn chế lượng ghi cue, hầu như không giới hạn. Presets được thiết lập trong 10 nhóm của 999, và có thể lưu trữ 999 sequence bổ sung. Theo phong cách Đức điển hình, nó khá nặng và chắc chắn, chuyên dùng cho tour lưu diễn. Những tính năng bản lề cho phép người lập trình thiết lập màn hình cảm ứng ở góc độ nào đó, cho phép coi tốt nhất trong những điều kiện ánh sáng khác nhau.

Figure 11-16

Hình 11.16:     grandMA2

Tôi được giới thiệu console này lần đầu hơn 12 năm trước, khi tôi là đạo diễn hình ảnh cho "Wheel of Fortune". Cho đến thời điểm này, khi chúng tôi quay về điểm diễn, người vận hành sẽ mang lại hai console, một để chạy moving light và một cho đèn thông thường. Khi chúng tôi bật grandMA lên, ông ta nói chỉ cần một console vì anh ta có thể viết cue, lập trình moving light, và đưa từng channel riêng lên trong quy trình công nghệ, tất cả trên cùng một board trong real-time. Hiện nay có nhiều console khác có thể làm điều tương tự, nhưng thấy grandMAbản nâng cấp lên grandMA2 đứng đầu trong lĩnh vực này. Hầu hết console đều có tuổi thọ ngắn trong thị trường cạnh tranh cao của tour lưu diễn, nhưng grandMA đã phục vụ lâu hơn và console được nhiều người ao ước muốn sở hữu.

CONSOLE CHUYÊN DÙNG

Vài console dựa trên PC không yêu cầu cái gì ngoài máy tính xách tay của bạn để chạy chương trình. Xem Hình 11.17 cho tên những công ty cung cấp tùy chọn này. Ngoài ra còn có console chuyên dùng, chẳng hạn loại đã thiết kế để chạy những màn hình LED lớn. Một cái gọi là Madrix, đến từ một công ty Đức, chạy trong Windows XP và Vista với một yêu cầu hệ thống tối thiểu là có bộ xử lý 2-GHz, card video có khả năng ít nhất là DirectX 9.0c, và một cổng USB dongle. Đây là một giải pháp phần mềm output 16 universe DMX-512 hay ArtnetII. Xử dụng tốt nhất là làm giao diện điều khiển bản đồ điểm ảnh (pixel-mapping).

Những chương trình lưu trữ bạn tạo ra, có thể phát lại theo nhiều cách, bao gồm cả được kích hoạt bởi nguồn âm thanh, nhưng trong tiến trình phát lại, có thể thao tác trực tiếp. Một khuyết điểm là chỉ có khoảng 1/3 hiệu ứng hoạt động không cần tín hiệu âm thanh. Đây là một phần của thời đại mới về việc mở rộng xử dụng đèn LED. Trong khi console này không thể kiểm soát toàn bộ show ca nhạc, có rất nhiều ứng dụng cho loại hình này kiểm soát outboard.

TÓM TT

Thị trường console cao cấp, tùy biến cao, crossplatform (media servers cho moving light) rất cạnh tranh, và những thiết bị này rất mắc tiền ($35.000 đến $89.000 hay nhiều hơn cho console loại hàng đầu). Đây không phải là mục để mua tùy hứng. Có thể hơi bất thường, trong vài cách, những console này đã sống dai như vậy đến khi bạn nhớ ra, những người lập trình và thiết kế là những sinh vật thói quen, những người lương cao, có khả năng làm công việc của họ nhanh, hiệu quả và chính xác. Muốn như vậy, đòi hỏi phải có lượng kiến thức lớn, thực hành và kinh nghiệm real-time về cách cho console làm công việc cho bạn ra sao. Có, có nhiều người lập trình có thể di chuyển giữa vài console nhưng không nhỏ một giọt mồ hôi, nhưng tại vài điểm, thị trường sẽ phải giải quyết. Bạn có thể lướt qua danh sách dài nhiều hãng sản xuất và nghĩ đây không phải là một trò chơi dành cho kẻ yếu tim. Dành nhiều thời giờ cho console tới mức bạn có thể. Hầu hết đại lý và người cho thuê đều có khu vực demo, nơi bạn có thể sắp xếp dành thời giờ cho console. ETC thiết lập nhiều bộ console ở Los Angeles cho người lập trình và thiết kế để thực hành hay lập chương trình của họ. Hầu hết người cho thuê có vài console, vài cái thiết lập trong phòng demo cho người thiết kế học tập những cái đó. Hầu hết các console cao cấp đều cho tải software miễn phí, cung cấp online hình ảnh của console và cho phép người xử dụng thực hành các chức năng và ghi cue. Những bản download này đều rất tốt cho việc học tập console mới khi bạn không thể truy cập vật lý, ngay cả khi bạn không thể xử dụng cue cho show, trừ khi bạn mua chương trình đó. Hãy lựa chọn phù hợp với thu nhập của bạn.

 


 

Viietnamese Keyboard

  [F9]
  (?)
  (?)
  (?)
 
  [F12]
  [F7]
  [F8]